"Ấp tỷ phú" ở Bạc Liêu
Vị thế Vĩnh Hoàn
Chiến lược đầu tư đúng đắn
Công ty CP Vĩnh Hoàn là doanh nghiệp có tiềm năng và lợi thế về nhiều mặt. Phân khúc thị trường xuất khẩu lớn và ổn định, mô hình sản xuất kinh doanh khép kín đã giúp Vĩnh Hoàn tận dụng được tối đa nguồn nguyên liệu và hưởng trọn chuỗi giá trị. Ngay từ năm 2006, Vĩnh Hoàn đã bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển bền vững, đảm bảo quy trình sản xuất không tác động xấu đến môi trường. Hai vùng nuôi là Tân Thuận Tây và Tân Hòa (Đồng Tháp) của Vĩnh Hoàn đã được chứng nhận về chuẩn hoá mô hình nuôi cá tra, basa theo tiêu chuẩn Global GAP của tổ chức Bureau Veritas Certification. Vĩnh Hoàn trở thành một trong bốn công ty chế biến xuất khẩu cá tra, basa đầu tiên của Việt Nam đạt được chứng nhận Global GAP. Điều này không chỉ giúp Công ty tăng được uy tín trên thị trường quốc tế, mà giá bán cũng cao hơn các doanh nghiệp khác từ 10-20%.
Vùng nuôi đạt chuẩn Global GAP của Công ty CP Vĩnh Hoàn
Bên cạnh đó, để đảm bảo nguồn thức ăn cho cá, Vĩnh Hoàn đã xây dựng nhà máy chế biến thức ăn với công suất 72.000 tấn/năm, đảm bảo nhu cầu cho các vùng nuôi. Và đến nay, Vĩnh Hoàn đầu tư thêm 2 dây chuyền sản xuất cho nhà máy thức ăn, nhằm tăng công suất lên gấp đôi. Theo nhận định của các chuyên gia, việc đầu tư mở rộng công suất nhà máy chế biến một cách vừa phải trong khi phát triển dần nguồn nguyên liệu, kết hợp song song với nhà máy thức ăn là một bước đi chiến lược và mang tính lâu dài. Bởi trong những năm gần đây, nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp cá tra, basa chưa bao giờ đạt được mức cân bằng tương đối.
Chiến lược phát triển vùng nuôi khép kín đã đem lại cho Vĩnh Hoàn nhiều thuận lợi, giảm thiểu rủi ro khi biến động giá nguyên liệu đầu vào. Đồng thời, chương trình nuôi cá sạch với nguồn thức ăn tự chế biến sẽ giúp sản phẩm truy xuất nguồn gốc được dễ dàng. Đây là yếu tố tiên quyết giúp Công ty tiếp tục giữ vững thị phần ở những thị trường khó tính và dễ dàng thâm nhập vào thị trường mới. Thêm vào đó, hiện tại Vĩnh Hoàn vẫn chưa hoạt động hết công suất thiết kế, chi phí đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong các năm tới sẽ giảm, nên tốc độ tăng lợi nhuận sẽ cao hơn.
Những thành công vượt bậc
Năm 2010, một năm đánh dấu nhiều thành công vượt bậc của Vĩnh Hoàn khi vượt qua nhiều “đại gia” trong ngành thủy sản Việt Nam trở thành “quán quân” trong các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra, basa và đứng vị trí thứ 2 trong top 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của cả nước. Không dừng lại ở đó, Công ty CP Vĩnh Hoàn còn khẳng định được sức mạnh của mình trên thị trường chứng khoán và danh hiệu "Thương hiệu Chứng khoán uy tín 2010" của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là minh chứng. Đó là sự khẳng định cho những thành công trong sản xuất kinh doanh và những đóng góp cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung.
Và thành công này của Vĩnh Hoàn sẽ còn cao hơn nữa, khi hai dự án đầy tiềm năng Nuôi cá chẽm xuất khẩu và Nhà máy sản xuất Collagen đi vào hoạt động, hứa hẹn sẽ giúp Công ty tăng lợi nhuận thêm 50 tỷ đồng trong năm 2012 và 100 tỷ đồng vào năm 2013.
Không chỉ có vậy, tháng 11/2010 vừa qua, Vĩnh Hoàn đã ký kết biên bản ghi nhớ thỏa thuận với Công ty Success Nexus (Malaysia) dự án sản xuất thực nghiệm dầu Diesel sinh học từ mỡ cá tra, basa, trở thành doanh nghiệp đầu tiên tại ViệtNamsản xuất thành công dầu diesel sinh học bằng công nghệ tiên tiến. Hiện nay, Vĩnh Hoàn đang tìm kiếm sự phát triển các sản phẩm mới để gia tăng giá trị từ phụ phẩm mỡ cá tra, basa, góp phần vào vào chiến lược “Tối ưu hóa chuỗi giá trị sản phẩm” của Công ty. Dự án này không những góp phần gia tăng doanh thu và lợi nhuận của Công ty mà còn đảm bảo phát triển năng lượng xanh, đóng góp vào việc giảm thiểu khí nhà kính theo Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC).
>> Quý 3 năm 2010, tổng doanh thu của Công ty CP Vĩnh Hoàn đạt 681,17 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 67,32 tỷ đồng. Tính chung 3 quý, tổng lợi nhuận sau thuế của Vĩnh Hoàn đạt gần 175,68 tỷ đồng, hoàn thành 97,69% kế hoạch năm. Uớc tính năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Vĩnh Hoàn đạt 125 triệu USD, bằng 108,7% kế hoạch năm (115 triệu USD) và lợi nhuận sau thuế đạt 220 tỷ đồng, vượt 22,2% kế hoạch năm (180 tỷ đồng).
Trần Nguyễn
Nguồn Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam
Xuất khẩu cá nóc, tiềm năng mới cho thủy sản VN
Riêng tại vùng biển Kiên Giang, sản lượng cá nóc khai thác đạt được khoảng 6.000-10.000 tấn/năm. Toàn bộ cá nóc khai thác hầu như được ngư dân bỏ ngay trên biển hoặc đem về đất liền làm thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản hoặc tiêu thụ lén lút với giá thấp.
Để tránh khả năng mất cân bằng hệ sinh thái biển, giảm lãng phí... và nhận thấy thị trường Hàn Quốc rất ưa chuộng cá nóc, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cho phép hai tỉnh Khánh Hòa và Kiên Giang thí điểm khai thác, chế biến và xuất khẩu cá nóc sang Hàn Quốc.
Tỉnh Kiên Giang đã giao cho hai đơn vị chế biến và xuất khẩu cá nóc, bốn cơ sở thu mua, bảo quản và vận chuyển cá nóc tại cảng cá Khu công nghiệp Tắc Cậu để đảm bảo không tiêu thụ cá nóc ở thị trường nội địa, tránh xảy ra tác hại xấu ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người dân. Hiện, công ty chế biến chỉ được giao nhận, thực hiện hợp đồng xuất khẩu cá nóc với Công ty Korea Poseidon Seafood Co., Ltd (Hàn Quốc).
Ông Cao Hương Thiên, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thủy sản Mai Sao (Mai Sao Seafood Co., Ltd) - một trong hai đơn vị được chọn thu mua, chế biến cá nóc xuất khẩu tại Kiên Giang cho biết, công ty này vừa đạt được thỏa thuận với Công ty Poseidon Seafood (Hàn Quốc) để giải quyết trên 56 tấn cá nóc đang tồn kho.
Trước đó, các công ty được giao thu mua, chế biến cá nóc và ngư dân Kiên Giang đã rất lo lắng khi Công ty Poseidon Seafood (đối tác được Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ định độc quyền mua cá nóc xuất khẩu tại Kiên Giang) đột ngột ngưng nhập khẩu với lý do cá nóc của Kiên Giang nhỏ và giá cao so với sản phẩm cùng loại của Indonesia, Trung Quốc. Hiện nay phía Hàn Quốc thu mua cá nóc ở Kiên Giang với giá chỉ 1,4 USD/kg, tuy nhiên, giá cá nóc ở Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc từ 3-5 USD/kg.
Các chuyên gia ngành thủy sản đánh giá, mặc dù, việc xuất khẩu cá nóc mới chỉ là bước đầu, hy vọng những lô hàng đầu tiên này sẽ nhận sớm được những phản hồi tốt đẹp từ phía nhà nhập khẩu Hàn Quốc, mở ra một mặt hàng triển vọng mới cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam./.
Không để cá tra Việt Nam bị “hạ gục”
ASC là viết tắt của Hội Đồng Quản Lý Nuôi Trồng Thuỷ Sản, một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận. ASC được thành lập vào năm 2009 bởi WWF và IDH (Sáng Kiến Thương Mại Bền Vững Hà Lan) để quản lý các tiêu chuẩn toàn cầu đối với việc nuôi trồng thuỷ sản có trách nhiệm |
Cần kiên định trước những khuyến cáo vô lý của WWF |
Nội dung phát triển thủy sản bền vững của FAO (CoC) phải đạt 4 tiêu chí: An toàn môi trường; an toàn bệnh dịch; an toàn thực phẩm; chính sách xã hội. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra cấp giấy chứng nhận CoC cho những cơ sở đạt yêu cầu. |
Tháng 1, xuất khẩu thuỷ sản đạt 320 triệu USD
Năm 2011: kỳ vọng xuất khẩu thủy sản đạt 5,3 tỷ USD
| Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) dự báo,xuất khẩu thủy sản năm 2011 có thể đạt 5,3 tỷ USD, sau khi tăng tốc vàocuối năm ngoái và thu về trên 5 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay.Các nhà xuất khẩu thủy sản tiếp tục kỳ vọng vào nhiều yếu tố hỗ trợnhư tỷ giá, thị trường. | |
Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP cho biết, thủy sản Việt Nam ngày càng có chỗ đứng trên thế giới, được coi như một nguồn cung cấp khá ổn định nhờ các yếu tố chính trị xã hội ổn định, doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng am hiểu và định hình tốt nhu cầu thị trường. “Bên cạnh đó thì tỷ giá tăng sẽ tiếp tục hỗ trợ cho xuất khẩu như trong năm 2010.” ông nói. Về thị trường, theo ông Hòe, bên cạnh các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật, EU có xu hướng giữ vững nhu cầu tiêu thụ thì thủy sản Việt Nam còn có cơ hội mở rộng thị trường sang các nước có tiềm năng lớn như Hàn Quốc và Trung Quốc. Thị trường Hàn Quốc, một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất trong khu vực, đang tăng cường nhập khẩu thủy sản phục vụ tiêu dùng. Đặc biệt là Trung Quốc, theo ông Hòe, nước láng giềng Việt Nam đang chuyển hướng từ nước xuất khẩu sang nhập khẩu cho chế biến. Bên cạnh đó, chính sách thương mại song phương đang ngày một cải thiện cũng sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam chính ngạch lẫn tiểu ngạch. Trong năm 2010 kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang 2 thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc tăng mạnh lần lượt 28,3% và 22,2% so với năm 2009 và xu hướng này sẽ tiếp tục giữ qua năm 2011. Người đại diện VASEP cho biết trong các năm tới sẽ xây dựng chiến lược dài hạn cho hai thị trường này như thị trường điểm, nhiều tiềm năng và khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu thâm nhập và xác định chiến lược phát triển lâu dài. “Tôm và cá tra là một trong hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Trong khi sản lượng cá tra dự báo năm 2011 chỉ đạt khoảng 800,000 tấn và mang về khoảng 1 tỷ USD, giảm khoảng 28% so với kim ngạch xuất khẩu 1,4 tỷ trong năm 2010 thì tôm sẽ đóng vai trò đầu tàu, với nguồn cung cấp tôm chân trắng, tôm sú đều ổn định, giá xuất khẩu dự báo sẽ tiếp tục đi lên đứng trước nhu cầu tăng của các nước Mỹ, EU cho đến các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản. Do vậy xuất khẩu tôm có thể đạt 2,2 tỷ USD trong năm nay.” ông Hòe cho biết. Đứng trước nhiều yếu tố thuận lợi thế nhưng ông cũng cảnh báo nếu Việt Nam không làm tốt vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, nổi bật là vấn đề hóa chất kháng sinh tồn dư trong thủy sản, thì sẽ tiếp tục gặp khó với cơ quan kiểm dịch và dư luận tại nhiều nước trên thế giới. Thái Hằng | |
(TVH)
|
Xuất khẩu thủy sản năm 2011: Tiềm năng và thách thức
Năm 2010, ngành thủy sản VN đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Các mặt hàng chủ lực là cá tra, tôm, cá rô phi đều bị đưa vào danh sách đỏ tại 6 nước châu Âu. Bên cạnh đó, cạnh tranh thương mại với nhiều chiêu phá giá, đánh thuế cao, cho là sản phẩm không bảo đảm vệ sinh… cũng khiến con cá, con tôm VN long đong trên thị trường thế giới. Gần đây, tại thị trường truyền thống Nhật Bản, việc các lô hàng XK thủy sản VN có chứa hoạt chất trifluralin vượt mức cho phép đã làm cho nhu cầu nhập khẩu và tiêu dùng thủy sản VN giảm mạnh. Ngoài ra, một số nước trong khu vực như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippines đã mở rộng sản xuất, nâng cao sản lượng, tạo dựng được uy tín và thương hiệu trên thị trường thế giới. Trong bối cảnh ấy, thị trường XK thủy sản VN có nhiều khả năng bị thu hẹp nếu không sớm có chiến lược.
Song song với những khó khăn trên, sản xuất thủy sản trong nước cũng phải đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu, thiếu lao động. Trao đổi với phóng viên Hànộimới, ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản VN (Vasep) cho biết, ngành thủy sản đang thiếu công nhân có trình độ hiểu biết, tác phong công nghiệp từ khâu nuôi trồng đến chế biến. Nếu không sớm đào tạo đội ngũ nuôi thủy sản có trình độ thì việc các mặt hàng thủy sản VN bị bỏ rơi là điều khó tránh khỏi. Điều đáng quan tâm nữa là nguồn nguyên liệu để sản xuất luôn thiếu. Năm 2010, lần đầu tiên XK tôm của VN vượt qua con số 2 tỷ USD. Hiện, các mặt hàng tôm có mặt tại 92 thị trường, tăng 10 thị trường so với các năm trước. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguyên liệu đã dẫn tới giá tôm nguyên liệu tăng mạnh. Một số nhà máy chỉ hoạt động 50-60% công suất, một số khác phải nhập khẩu nguyên liệu từ các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia. Ông Nguyễn Hữu Dũng cho hay, năm tới tình trạng thiếu nguyên liệu cho ngành tôm sẽ tiếp tục tái diễn. Nguyên nhân do người nuôi chưa bám sát nhu cầu và đáp ứng kịp thời cho XK. Dù phải đối diện với nhiều khó khăn, song thách thức lớn nhất trong năm 2011 của ngành thủy sản là vốn. Nếu có nguồn vốn kịp thời người nuôi và sản xuất thủy sản sẽ rơi vào tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thiếu quy mô, khó tiếp cận khoa học kỹ thuật. Ngành thủy sản kiến nghị, Chính phủ cần có chính sách cho vay vốn hợp lý, căn cứ vào năng lực từng doanh nghiệp XK và chế biến.
Để ngành thủy sản “vững tay chèo”
Để ngành thủy sản phát triển bền vững, tăng giá trị sản xuất và XK, mới đây Trung tâm Tư vấn và Quy hoạch phát triển thủy sản đưa ra kịch bản phát triển ngành chế biến thủy sản VN trong 10 năm tới. Theo kịch bản, kim ngạch XK thủy sản giai đoạn 2011-2015, mỗi năm sẽ đạt 6,5 tỷ USD tương đương với sản lượng 1.620 ngàn tấn. Đến giai đoạn 5 năm tiếp theo, giá trị kim ngạch XK và sản lượng chế biến XK cũng tăng lên tương ứng, đạt 8 tỷ USD và 1.900 ngàn tấn/năm. Theo bà Trần Thị Dung, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Quy hoạch thủy sản, việc ngành thủy sản phải làm bây giờ là đầu tư nâng cấp các nhà máy chế biến thủy sản, xây dựng kho lạnh sản xuất và thương mại, Nhà nước cần bố trí nguồn vốn vay ưu đãi cho các doanh nghiệp chế biến. Ngành thủy sản cần duy trì tốc độ XK như hiện nay vào các thị trường chính như Mỹ, Nhật Bản và EU. Theo dự báo, đến năm 2020 nhu cầu tiêu thụ ở các thị trường này sẽ tăng cao. Ngoài ra, khi dịch bệnh trên gia súc, gia cầm tăng, người tiêu dùng sẽ chuyển sang chọn các sản phẩm thủy sản. Trong giai đoạn 2011-2020, tôm, cá tra và nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc) đông lạnh vẫn là nhóm sản phẩm quan trọng trong cơ cấu sản lượng các sản phẩm thủy sản XK của VN, chiếm 80%. Ngoài các sản phẩm chủ lực, ngành thủy sản đang mở rộng nhiều sản phẩm mới. Trong giai đoạn này, cá chẽm và cá rô phi sẽ được bổ sung vào danh mục sản phẩm XK. Dự kiến đến năm 2015, sản lượng cá rô phi XK đạt 30.000 tấn, giá trị kim ngạch đạt 80 triệu USD.
Nhiều chuyên gia thủy sản cho rằng, để ngành thủy sản phát triển hiệu quả và bền vững phải quy hoạch các nhà máy chế biến theo vùng kinh tế. Các nhà máy chế biến thủy sản sẽ gắn với vùng nguyên liệu và các trung tâm công nghiệp chế biến của các vùng. Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, các nhà máy sẽ đặt ở Hải Phòng, nơi có các cảng biển, thuận lợi cho việc vận chuyển, đồng thời có thể tập trung đầu tư kho lạnh thương mại. Đối với vùng Đông Nam bộ, cần xây dựng thêm khoảng 10-12 nhà máy có công suất 4.000-5.000 tấn/năm, với hiệu suất sử dụng thiết bị duy trì ở mức 90%, nhằm bảo đảm quy hoạch sản lượng XK. Đến năm 2020, cần đầu tư mới nhà máy có công suất khoảng 5.000 tấn/năm ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Tháp… Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho rằng, để giải quyết các vấn đề về nuôi thủy sản, cần ngăn chặn ngay tình trạng phát triển nuôi tràn lan không hiệu quả, đặc biệt là không quản lý được chất lượng con giống, môi trường nuôi, làm ảnh hưởng đến uy tín, hiệu quả sản xuất; chỉ như vậy mới gây dựng được thương hiệu của ngành thủy sản VN trên thị trường thế giới.
